BHXH ViettelPhần mềm kê khai vBHXH
Tư vấn dịch vụHỗ trợ đăng ký toàn quốc
0962.72.0000

HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ MÃ ĐƠN VỊ LẦN ĐẦU CHO ĐƠN VỊ

Phạm vi: Chỉ áp dụng cho các
đơn vị trên địa bàn Hà Nội

B1: Lên
trang web: https://www.chukysoviettel.com/
>> menu Download: https://www.chukysoviettel.com/p/download.html >>
Tại mục 2 của menu Tải phần mềm vBHXH mới nhất về >> sau đó giải nén và
cài đặt phần mềm vào máy tính >> mở phần mềm như hình dưới 

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

–        
B2: Nhấn vào link “Đăng ký lần đầu” và thực hiện nhập các
thông tin cần thiết:

o   Tab Thông tin cơ bản:

§  Mã
số thuế/ Mã NSNN: Nhập mã số thuế của đơn vị

§  Tên
đơn vị: Nhập đầy đủ tên đơn vị

§  Tên
đơn vị tiếng anh( nếu có): Nhập tên đơn vị bằng tiếng anh ( nếu có)

§  Địa
chỉ đơn vị: Ghi địa chỉ của đơn vị

§  Điện
thoại đơn vị: Ghi số điện thoại của đơn vị ( lưu ý ghi đúng số điện thoại)

§  Email
đơn vị: Nhập địa chỉ email của đơn vị

§  Loại
hình đối tượng: Chọn Cá nhân hoặc tổ chức

§  Phương
thức nhận kết quả: chọn Nhận tại CQBH hoặc Qua bưu điện

§  Địa
chỉ đăng ký kinh Doanh: Nhập nơi đăng ký giấy phép kinh Doanh

§  Loại
hình đơn vị: Ghi các loại hình của đơn vị như: Cơ quan hành chính, Đảng, đoàn;
Sự nghiệp công lập; Sự nghiệp ngoài công lập; Doanh nghiệp nhà nước; Doanh nghiệp
ngoài nhà nước; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Hợp tác xã; Tổ hợp tác;
hộ kinh Doanh cá thể; Văn phòng đại diện, tổ chức quốc tế.

§  Số
quyết đinh thành lập: Nhập số quyết định thành lập

§  Phương
thức đóng: Chọn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng

§  Ngày
thành lập: ghi ngày thành lập công ty

§  Ngày
đăng ký: Ghi ngày đăng ký trên giấy phép kinh doanh

§  Nơi
cấp quyết định: Nhập Tên cơ quan cấp quyết định thành lập/giấy phép kinh Doanh
cho đơn vị

§  Nội
dung: Ghi nội dung yêu cầu

§  Chọn
file kèm theo (.pdf): Giấy phép thành lập DN hoặc bản đăng ký kinh doanh

§  Hồ
sơ kèm theo: Kê chi tiết, số lượng các giấy tờ gửi kèm

§  Người
giao dịch BHXH: Nhập họ tên người giao dịch BHXH của đơn vị

§  Điện
thoại liên hệ: Nhập số điện thoại liên hệ của người giao dịch BHXH

§  Tỉnh/Thành
phố: Chọn tỉnh thành phố đăng ký BHXH

§  Cơ
quan BHXH: chọn cơ quan BHXH quản lý thuộc tỉnh đã chọn

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

o   Tab Thông tin chữ ký số:

§  Click
chọn chứng thư số: để chọn chứng thư số đúng

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

–        
B3: Nhấn  “Đăng ký” để gửi yêu cầu sang BHXH Hà Nội

–        
B4: check mail BHXH VN
gửi mã kích hoạt về như hình dưới:

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

–        B5: nhận mail thông
báo thành công từ BHXH VN trả về sau khi kích hoạt dịch vụ thành công như hình
dưới

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

–        
B6: Chờ mail của BHXH
gửi mã đơn vị về cho đơn vị

o  Tab Lịch sử đăng ký:

http://www.viettelbhxh.com/p/bao-gia.html

Nhấn
“Làm mới” để lấy thông tin tra cứu mới nhất.

Nhấn
“Tra cứu chuyên sâu” để lấy thông tin kết quả tra cứu của các bước tiếp theo


HOTLINE HỖ TRỢ LẤY MÃ
ĐƠN VỊ MIỄN PHÍ: 0962.268.862 – 09. 6272.0000


Phát triển BHXH tự nguyện: Cần những giải pháp đột phá trong thực hiện

Phát triển, mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện là mục tiêu quan trọng hướng tới BHXH toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người. Nhằm đẩy mạnh công tác này, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chọn tháng 5 hằng năm là Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân. Nhìn lại Tháng cao điểm đầu tiên, phóng viên Cổng Thông tin điện tử BHXH Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu về việc phát triển BHXH tự nguyện trong tình hình hiện nay. 

Pho Tong Giam doc BHXH Viet Nam Tran Dinh Lieu
Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu 

PV: Năm 2020 được coi là năm bản lề để BHXH tự nguyện tăng tốc, hoàn thành các mục tiêu theo tinh thần của các Nghị quyết Trung ương đã đề ra. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, dịch Covid-19 đã và đang gây ra những tác động tiêu cực đến cuộc sống người dân. Điều này có ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển BHXH tự nguyện, thưa Phó Tổng Giám đốc?

– Phó Tổng Giám đốc Trần Đình Liệu:

Ngày 23/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH – ghi dấu mốc quan trọng trong thực hiện chính sách này ở nước ta. Với quyết tâm đưa Nghị quyết 28-NQ/TW vào cuộc sống, thời gian qua, BHXH Việt Nam đã nỗ lực, triển khai nhiều giải pháp, đạt được những kết quả tích cực.

Về số người tham gia BHXH tự nguyện, từ khi có Nghị quyết 28-NQ/TW đã phát triển nhanh chóng. Cụ thể, năm 2018, toàn quốc đã có trên 277.000 người tham gia, tăng hơn 52.900 người, tương ứng tăng 23,6% so với năm 2017. Năm 2019, con số này đã tăng lên gần 574.000 người, tăng 296.700 người, tương ứng tăng 107,1% so với năm 2018, chiếm 1,17% so với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động. Đặc biệt, số người tham gia BHXH tự nguyện tăng mới trong năm 2019 đã bằng tổng số người tham gia BHXH tự nguyện phát triển được của cả 11 năm trước cộng lại.

Đây là kết quả rất tích cực cho thấy những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã đi vào cuộc sống; công tác truyền thông phát huy hiệu quả, làm thay đổi nhận thức người dân; việc tổ chức, thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ngày càng thuận tiện, tạo được niềm tin trong Nhân dân.

Tuy nhiên, bước sang năm 2020, việc phát triển BHXH tự nguyện đã phải đối mặt với một thách thức lớn khi dịch Covid-19 bùng phát trên thế giới và tác động trực tiếp tới Việt Nam gây thiệt hại nặng nề về kinh tế – xã hội. Thu nhập của người dân giảm sút, nhiều người lâm vào khó khăn nên không thể tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện.

Bên cạnh đó, các hoạt động truyền thông, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện cũng phải tạm hoãn để thực hiện giãn cách xã hội… dẫn đến số người tham gia có sự sụt giảm. Cụ thể: Trong 4 tháng đầu năm 2020, cả nước có 557.000 người tham gia BHXH tự nguyện (giảm 16.000 người so với năm 2019)…

PV: Có thể thấy, công tác phát triển BHXH tự nguyện còn nhiều khó khăn, thách thức, cần có những giải pháp đột phá trong thực hiện. Được biết, Lễ ra quân toàn quốc phát triển BHXH tự nguyện vừa qua đã mang lại kết quả rất tích cực, Phó Tổng Giám đốc có thể cho biết cụ thể hơn và đánh giá thế nào về giải pháp này?

– Phó Tổng Giám đốc Trần Đình Liệu:

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, trong điều kiện bình thường, tốc độ phát triển BHXH năm sau sẽ tăng thêm khoảng 5 – 6% so với năm trước liền kề. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, nỗ lực phát triển BHXH tự nguyện đang gặp nhiều khó khăn. Đây là một thách thức lớn, tuy nhiên, tôi cho rằng khó khăn này chỉ là ngắn hạn. Cùng với việc từng bước kiểm soát được dịch bệnh ở trong nước và trên thế giới, những nỗ lực của Chính phủ trong khôi phục lại nền kinh tế và quyết tâm của các bộ ngành liên quan trong thực hiện chính sách thì việc phát triển BHXH sẽ dần trở lại quỹ đạo. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh, thay đổi về sinh hoạt xã hội cũng đặt ra yêu cầu, là cơ hội để BHXH Việt Nam tiếp tục cải cách trong tổ chức, thực hiện chính sách; đổi mới về công tác truyền thông.

Phat trien BHXH tu nguyen

Thời gian qua, BHXH Việt Nam đã tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan; nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: tích cực tham gia đề xuất hoàn thiện chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn; tìm kiếm các giải pháp, đổi mới phương thức quản lý; thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin tạo thuận lợi cho người tham gia, thụ hưởng trong dịch bệnh… 

Về công tác truyền thông, BHXH Việt Nam đã thực hiện nhiều đổi mới, tăng cường truyền thông trên môi trường internet như: Google, facebook… Khuyến khích mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành BHXH là một tuyên truyền viên (truyền thông trực tiếp, sử dụng trang mạng xã hội cá nhân) để giới thiệu, vận động người dân tham gia.

Đặc biệt, thực hiện Quyết định số 1676/QÐ-TTg ngày 21/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ khi chọn Tháng 5 hằng năm là Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân, ngày 23/5 vừa qua, BHXH Việt Nam đã phối hợp với Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam tổ chức Lễ ra quân trực tuyến toàn quốc hưởng ứng “Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân – Tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện”. Chương trình được thực hiện trực tuyến với các điểm cầu ở Trung ương và 63 điểm cầu các tỉnh, thành phố, vừa bảo đảm giãn cách xã hội mà vẫn thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân các địa phương.

Kết quả, chỉ tính riêng ngày ra quân, toàn quốc đã trực tiếp vận động được 27.478 người tham gia BHXH tự nguyện. Trong đó, có 17 tỉnh phát triển được trên 500 người tham gia. Đáng chú ý, nhiều địa phương cũng đã phát triển được hàng nghìn người tham gia BHYT hộ gia đình nhân dịp này. Bên cạnh đó, có 18 tỉnh, thành phố ra quân tiếp trong ngày 24/5 và phát triển thêm được 2.539 người tham gia BHXH tự nguyện. Tổng cả đợt ra quân, toàn quốc đã phát triển được thêm 30.017 người tham gia BHXH tự nguyện.

Kết quả này cho thấy, những phương thức mới, ứng dụng công nghệ thông tin dễ dàng được người dân đón nhận, tạo được sự cộng hưởng, tác động mạnh mẽ hơn trong cộng đồng. Đây là động lực để BHXH Việt Nam tiếp tục đổi mới công tác truyền thông về BHXH, triển khai nhiều hơn nữa các hình thức truyền thông trực tuyến, theo chiến dịch thời gian tới.

PV: Từ kết quả, khí thế của Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân, theo Phó Tổng Giám đốc, BHXH Việt Nam cần tiếp tục triển khai những giải pháp gì để phát triển BHXH tự nguyện có sự “bứt phá” hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao? 


– Phó Tổng Giám đốc Trần Đình Liệu: 

Phải nói rằng, công tác phát triển BHXH luôn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Ngoài những khó khăn mang tính “ngắn hạn” kể trên thì chính sách BHXH cũng có tính đặc thù, đó là hướng tới bảo đảm an sinh xã hội trong dài hạn. Thực tiễn cho thấy, thường phải mất một quá trình dài người dân mới có thể hiểu, cảm nhận được lợi ích thiết thực của chính sách BHXH. Và để “rút ngắn” quá trình này, thay đổi nhận thức của người dân thì sự đổi mới, đột phá trong công tác truyền thông giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, bên cạnh “đòn bẩy” từ công tác truyên thông thì việc hoàn thiện, đổi mới chính sách BHXH sao cho hấp dẫn, thuận lợi trong đóng, hưởng lại giữ vai trò quyết định cho sự lựa chọn, tham gia lâu dài của người dân.

Doi moi trong chinh sach BHXH tu nguyen
Cần “đột phá” về truyền thông, đổi mới trong chính sách để tăng diện bao phủ BHXH tự nguyện (Ảnh minh họa) 

Vì vậy, để phát triển BHXH tự nguyện bền vững, hướng tới BHXH toàn dân, năm 2020, BHXH Việt Nam xác định tiếp tục song hành nhiều giải pháp. Trong đó, tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính gồm: tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, các cơ quan truyền thông, cơ quan thông tấn, báo chí, cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh công tác truyền thông với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hiện đại. Qua đó, giúp người dân, người lao động hiểu rõ quyền, lợi ích của việc tham gia BHXH trên cơ sở nhận thức đúng, đầy đủ và sâu sắc chủ trương, quan điểm của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về BHXH, từ đó tạo sự đồng thuận, chủ động tham gia.

Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam tiếp tục đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH để tăng tính hấp dẫn, thuận lợi hơn nữa cho người tham gia. Trong đó sẽ đề xuất, kiến nghị: sửa đổi quy định về điều kiện, về thời gian đóng BHXH tự nguyện để được hưởng lương hưu, kết hợp với điều chỉnh cách tính hưởng lương hưu; Quy định điều chỉnh tăng và linh hoạt hơn về sự hỗ trợ của Nhà nước cho người tham gia BHXH tự nguyện nhất là đối tượng người nông dân, người lao động phi chính thức không thuộc người thuộc hộ nghèo, cận nghèo để tăng mức độ hấp dẫn, khuyến khích tăng số người tham gia BHXH tự nguyện; Quy định điều kiện về tuổi để được hưởng lương hưu giữa nam và nữ cho phù hợp để khuyến khích người nông dân, người lao động khu vực phi chính thức là nam giới tham gia BHXH tự nguyện.

Cuối cùng là nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện công tác phát triển người tham gia BHXH của cơ quan BHXH thông qua việc tăng cường phối hợp chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hỗ trợ nghiệp vụ, cải cách thủ tục hành chính; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, quản lý và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đối với tổ chức, bộ máy làm công tác thu, đại lý thu chấn chỉnh kịp thời sai phạm, nhũng nhiễu làm hạn chế kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác phát triển đối tượng…

Theo Cổng Thông tin điện tử BHXH

Tăng cường triển khai nhiều kế hoạch hợp tác lớn trong lĩnh vực BHYT giữa WHO và BHXH Việt Nam

Sáng ngày 02/6, tại Hà Nội, Đoàn công tác của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) do ông Kidong Park, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với BHXH Việt Nam. Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Phạm Lương Sơn tiếp Đoàn công tác. 

Phát biểu chào mừng, Phó Tổng Giám đốc Phạm Lương Sơn trân trọng cảm ơn và ghi nhận sự hỗ trợ, giúp đỡ của WHO thời gian qua với BHXH Việt Nam; đồng thời đánh giá cao sự chung tay của WHO với Việt Nam trong phòng, chống và đẩy lùi đại dịch Covid-19.

Chia sẻ tại buổi làm việc, ông Kidong Park gửi lời chúc mừng những thành tựu to lớn của BHXH Việt Nam đã đạt được trong lĩnh vực BHXH, BHYT sau 25 năm hình thành và phát triển. Đồng thời, đánh giá cao hệ thống y tế của Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19. Ông Kidong Park cho rằng, thành công này có nhiều yếu tố mang lại trong đó phải kể đến việc Việt Nam đã rất quan tâm và xây dựng được một hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân và Hệ thống thông tin giám định và thanh toán BHYT được ứng dụng kịp thời, hiệu quả; đặc biệt là độ bao phủ BHYT cao với 90% dân số – đây là yếu tố quan trọng giúp các nhà quản lý đưa ra được các quyết sách phù hợp trong chỉ đạo, điều hành.

Ke hoach hop tac lon trong linh vuc BHYT
 Toàn cảnh buổi làm việc 

Tại buổi làm việc, đại diện Vụ Hợp tác quốc tế (BHXH Việt Nam) đã báo cáo kết quả hợp tác giữa BHXH Việt Nam và WHO trong thời gian qua. Trưởng ban Dược và Vật tư y tế, kiêm phụ trách Ban Chính sách BHYT Lê Văn Phúc đề xuất các nội dung hợp tác giữa BHXH Việt Nam và WHO trong tương lai.

Theo đó, BHXH Việt Nam đề xuất WHO hỗ trợ triển khai nghiên cứu đánh giá thực hiện Luật BHYT từ năm 2015 đến nay; trong đó có tiến hành xây dựng đề cương đánh giá, thu thập và phân tích số liệu thứ cấp; khảo sát tại địa phương; cung ấp kinh nghiệm quốc tế và thực hiện chính sách BHYT. Qua đó đề xuất sửa đổi, hoàn thiện Luật BHYT và các các giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả Luật BHYT.

BHXH Việt Nam cũng mong muốn, WHO hỗ trợ kỹ thuật trong đổi mới phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh gồm: thanh toán theo nhóm chẩn đoán (DRGs); Hỗ trợ chuyên gia đào tạo kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệp quốc tế trong thực hiện DRGs. Hỗ trợ xây dựng các quy tắc giám định phục vụ giám định điện tử. Nâng cao năng lực quản lý chi phí và sử dụng hợp lý thuốc và vật tư y tế; đàm phán giá thuốc và vật tư y tế; cung cấp kinh nghiệm quốc tế về đàm phán giá thuốc; cung cấp dữ liệu về giá thuốc thực hiện đàm phán tại các quốc gia; kinh nghiệm đấu thầu thuốc tại các quốc gia trên thế giới và định hướng cho Việt Nam; kinh nghiệm mua sắm vật tư y tế và khuyến cáo cho Việt Nam. Hỗ trợ, đào tạo nâng cao năng lực quản trị hệ thống, đào tạo về chuyên môn, phương thức thanh toán, quản lý thuốc vật tư y tế…

Ghi nhận những đề xuất hỗ trợ của BHXH Việt Nam, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng BHXH Việt Nam thực hiện các nghiên cứu khảo sát thực tế, đánh giá triển khai Luật BHYT, tiếp tục hỗ trợ BHXH Việt Nam hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, ứng dụng CNTT cũng như thay đổi các phương thức thanh toán BHYT. Liên quan đến vấn đề đào tạo, WHO sẽ xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp, cử chuyên gia hỗ trợ nâng cao năng lực cán bộ của BHXH Việt Nam trong lĩnh vực y tế. Trước mắt có thể thông qua các hình thức hội thảo trực tuyến trong bối cảnh nhiều quốc gia chưa kiểm soát tốt tình trạng dịch Covid-19…

Tại buổi làm việc, BHXH Việt Nam và WHO cũng đã khởi động hoạt động hợp tác trong lĩnh vực Dược – “gắn mã ATC đối với thuốc kháng khuẩn được quỹ BHYT chi trả”.

Phát biểu khởi động hoạt động dự án, Phó Tổng Giám đốc Phạm Lương Sơn nhấn mạnh, chi phí thuốc luôn chiếm tỷ trọng cao và là một trong mối quan tâm lớn của cơ quan BHXH. Trong đó, việc sử dụng và chi trả thuốc kháng sinh luôn là một thách thức trong quản lý. Bên cạnh việc sử dụng và chi trả hợp lý, an toàn và hiệu quả, BHXH Việt Nam còn đồng hành với Bộ Y tế trong các chương trình kiểm soát chống kháng thuốc, bảo vệ quyền lợi cho người tham gia BHYT. Do vậy cần có các công cụ, chỉ số giúp cảnh báo, khuyến nghị chính sách để đảm bảo mục tiêu trên.

Ông Kidong Park cho rằng, hoạt động gắn mã ATC đối với thuốc kháng khuẩn được quỹ BHYT chi trả là cần thiết. Điều đó sẽ góp phần giúp BHXH Việt Nam đưa ra được các quyết sách hiệu quả trong thanh toán BHYT. Việc khởi động hoạt động này sẽ góp phần những bước đầu tiên trong sử dụng thuốc kháng sinh nói riêng, tiến tới sử dụng thuốc một cách hợp lý và hiệu quả trong điều trị…

Theo BHXH Việt Nam

Mã định danh y tế sẽ gồm 10 ký tự, kế thừa từ Mã số BHXH

Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 2153/QĐ-BYT ban hành quy chế xác lập, sử dụng và quản lý mã định danh y tế. Theo đó, Mã số BHXH sẽ được sử dụng làm mã định danh y tế.

Ma dinh danh y te
Ảnh minh hoạ

Theo Quyết định này, mỗi người dân chỉ được cấp một mã định danh y tế duy nhất và tồn tại suốt đời. Cơ sở y tế sử dụng mã định danh y tế để liên kết thông tin sức khỏe của người dân với bệnh án điện tử, hồ sơ sức khỏe điện tử và các phần mềm thông tin y tế khác.

Mã định danh y tế gồm 10 ký tự số, là số định danh cá nhân của người tham gia BHXH, BHYT theo quy định tại Quyết định số 1263/QĐ-BHXH ngày 21/11/2014 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành và quy định quản lý, sử dụng hệ thống danh mục dùng chung, chỉ tiêu báo cáo ngành BHXH. Bộ dữ liệu thông tin định danh gồm: Mã số BHXH, họ tên, ngày sinh, giới tính, mã tỉnh/huyện/xã nơi đăng ký khai sinh, mã thẻ BHYT (nếu người dân có tham gia BHYT).

Mã định danh y tế có những đặc tính cơ bản như: Luôn trong trạng thái sẵn sàng để các cơ sở y tế có thể truy vấn, sử dụng; có khả năng xác định danh tính của một cá nhân gắn liền với một mã định danh hợp lệ; có thể được sử dụng kết hợp với các thông tin khác để tạo ra mã liên kết các hồ sơ y tế trên các hệ thống thông tin khác nhau; có khả năng tạo liên kết và kiểm tra tính hợp lệ của mã định danh.

BHXH Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế cấp và quản lý Mã số BHXH của người dân đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin của người dân. Đồng thời, BHXH Việt Nam có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin tra cứu mã số BHXH và thông tin định danh liên quan của người dân phục vụ công tác khám chữa bệnh. Các cơ sở y tế có trách nhiệm quản lý mã định danh y tế của người bệnh bảo đảm tính riêng tư, an toàn và bảo mật thông tin.

Theo Bộ Y Tế

Chữ ký số đầu tiên không dùng USB Token tại Việt Nam

Thông tin từ công ty MISA – đơn vị từng đạt giải nhì Giải thưởng Nhân tài Đất Việt cho hay, đơn vị vừa phát triển thành công eSign – chữ ký số không dùng USB Token đầu tiên tại Việt Nam. 

Việc nghiên cứu và phát triển thành công eSign – chữ ký số không dùng USB Token đầu tiên tại Việt Nam thay thế hoàn toàn phương thức ký bằng USB Token là một bước đi tiên phong của MISA trong cách mạng công nghệ chữ ký số.

Lãnh đạo của công ty cho biết, điểm nổi trội của eSign là mọi thao tác ký số các tài liệu hay phát hành hóa đơn điện tử đều có thể thực hiện ngay trên điện thoại thay vì phải có cả máy tính và USB Token như trước đây. Chủ doanh nghiệp dễ dàng phân quyền ký tài liệu cho các bộ phận hoặc trực tiếp ký ngay trên điện thoại của mình mọi lúc, mọi nơi qua eSign. Nhờ vậy, nhiều người, nhiều chi nhánh có thể tham gia ký số, phát hành hóa đơn cùng một lúc, không mất thời gian đợi chờ di chuyển USB Token hay phải đầu tư mua và quản lý nhiều USB Token.

Chữ ký số đầu tiên không dùng USB Token tại Việt Nam

Nằm trong hệ sinh thái chuyển đổi số của MISA, chữ ký số eSign đã đã được tích hợp sẵn trong phần mềm hóa đơn điện tử meInvoice,vn, phần mềm kế toán MISA SME.NET… để chỉ cần 1 thao tác đơn giản, kế toán có thể vừa ký vừa thực hiện các nghiệp vụ như: phát hành hóa đơn, phát hành hóa đơn, kê khai Thuế, Hải quan, Bảo hiểm Xã hội…. Đặc biệt, eSign được thiết kế với tốc độ ký 2100 chứng từ/giây để người dùng có thể xử lý khối lượng công việc lớn trong thời gian ngắn.

Bên cạnh đó, được áp dụng theo tiêu chuẩn châu Âu eIDAS về bảo mật và tiêu chuẩn ISO 27001 để quản lý con người, chữ ký số eSign cũng đảm bảo tối đa an toàn thông tin và các giao dịch điện tử.

Dân trí

Thông báo triển khai gói cước dịch vụ Chữ Ký Số Viettel Tích Hợp dịch vụ VBHXH

Kính gửi: Quý Khách Hàng,
Căn cứ Tờ trình số 8032/TTr-GPDN
ngày 29/06/2018 về việc đề xuất triển khai chính sách dịch vụ 
Chữ Ký Số Viettel-CA combo
dịch vụ vBHXH;
Căn cứ chức năng nhiệm vụ của Tổng
Công ty Viễn thông Viettel,
Tổng Công ty
Viễn thông Viettel trân trọng gửi tới Quý Khách Hàng chương trình báo giá gói dịch
vụ 
Chữ Ký Số Viettel-CA combo
dịch vụ vBHXH- áp dụng từ ngày 01/07/2018. Chương trình cụ thể như sau:

I.                 
Mua mới CA Tích Hợp VBHXH
Mua mới CA combo VBHXH
Gói cước
Thời gian sử dụng
1 năm
2 năm
3 năm
Khuyến mại (tháng)
6
9
12
Tổng thời gian sử dụng
18 tháng
33 tháng
48 tháng
Giá
bán (đã VAT)
1,826,000
2,775,000
3,110,000
II.              
Gia hạn CA Tích Hợp VBHXH
Gia hạn CA combo vBHXH
Gói cước
Thời gian sử dụng
1 năm
2 năm
3 năm
Khuyến mại (tháng)
6
9
12
Tổng thời gian sử dụng
18 tháng
33 tháng
48 tháng
Giá
bán (đã VAT)
1,276,000
2,190,000
2,910,000

Hotline kinh doanh: 

Ms Luyến: 0988.86.1619
Ms Mai: 0962.268.862
Ms Ngân: 0987.193.999

Những điều cần biết về chế độ thai sản áp dụng trong năm 2018

CHẾ ĐỘ THAI SẢN 2018 có thêm 8 điều luật bổ sung,
không chỉ áp dụng khi bà mẹ sinh con mà là từ ngày đầu tiên biết mình có thai.
Điều đó có nghĩa là chế độ thai sản mới nhất sẽ bao gồm suốt thời gian mang
thai và nghỉ thai sản các tháng sau sinh.

Đáng chú ý, từ ngày 01/7/2018, sẽ tăng mức hưởng đối
với một số chế độ thai sản dành cho lao động nữ có tham gia bảo hiểm xã hội
(BHXH) bắt buộc để phù hợp với việc tăng mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2018 (từ
1.300.000 đồng/tháng lên thành 1.390.000 đồng/tháng). Cụ thể như sau:

1.
Tăng mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau
Tăng từ 390.000 đồng/ngày (hiện hành) lên thành
417.000 đồng/ngày (từ 01/7/2018).
–         
Điều
41. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản_Luật BHXH 2014: Mức hưởng chế độ
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.
2.
Tăng trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
Tăng từ 2.600.000 đồng (hiện hành) lên thành
2.780.000 đồng (từ ngày 01/7/2018)
–         
Điều
38. Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi_Luật BHXH 2014: Lao động
nữ sinh con hoặc người lao động (NLĐ) nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì
được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động
nữ sinh con hoặc tháng NLĐ nhận nuôi con nuôi. Trường hợp sinh con nhưng chỉ có
cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại
tháng sinh con cho mỗi con.
Ngoài những nội dung mới nêu trên, trong năm 2018 chế
độ thai sản vẫn được áp dụng theo các quy định hiện hành, cụ thể như sau:
3.
Đối tượng áp dụng chế độ thai sản
Đối tượng áp dụng chế độ thai sản là NLĐ thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
– Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định
thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc
theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả
hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện
theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
– Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn
từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
– Cán bộ, công chức, viên chức;
– Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm
công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
– Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân
dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật
công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
– Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều
hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
4.
Điều kiện hưởng chế độ thai sản
– NLĐ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
+ Lao động nữ mang thai;
+ Lao động nữ sinh con;
+ Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai
hộ;
+ NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
+ Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện
pháp triệt sản;
+ Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con.
– Lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ và
người mẹ nhờ mang thai hộ, NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng
BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận
nuôi con nuôi.
– Lao động nữ sinh con đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng
trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên
trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
– NLĐ đủ điều kiện nêu trên mà chấm dứt hợp đồng lao
động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con
nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại
các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật BHXH 2014.
5.
Thời gian hưởng chế độ khi khám thai
– Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ
việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được
nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.
– Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản nêu trên
tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
6.
Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai
bệnh lý
Khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá
thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được
quy định như sau:
– 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi;
– 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần
tuổi;
– 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần
tuổi;
– 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.
Lưu ý: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản nêu
trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
7.  Thời gian hưởng chế độ khi sinh con
– Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ
thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi
trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01
tháng.Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02
tháng.
– Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng
tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; nếu con từ
02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con
chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian
quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật BHXH 2014; thời gian này không tính vào thời
gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
– Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và
mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp
nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của
người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp mẹ tham gia BHXH nhưng
không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của BHXH 2014 mà
chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
–  Trường hợp
cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia BHXH mà không nghỉ việc theo quy định
tại khoản 4 Điều này thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với
thời gian còn lại của mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 34 BHXH 2014.
– Trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau
khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc
con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Lưu ý: Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định nêu
trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
– Lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được
nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
+ 05 ngày làm việc;
+ 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật,
sinh con dưới 32 tuần tuổi;
+ Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm
việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
+ Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật
thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
Lưu
ý: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính
trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
8.
Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ
– Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi
khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế
độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ
nhưng không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật BHXH 2014.
Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng
chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ
thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng
tuần.
– Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản
từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
– Thủ tục hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ
mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được quy định tại điều 5 của Nghị định
115/2015/NĐ-CP.
9.
Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi
NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được
nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Trường hợp cả
cha và mẹ cùng tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại
khoản 2 Điều 31 của Luật BHXH 2014 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế
độ.
10.
Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai
Khi thực hiện các biện pháp tránh thai thì NLĐ được
hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:
– 07 ngày đối với lao động nữ đặt vòng tránh thai;
– 15 ngày đối với NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản.
Lưu ý: Thời gian hưởng chế độ thai sản nêu trên tính
cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
11.
Mức hưởng chế độ thai sản
– NLĐ hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều
32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật BHXH 2014 thì mức hưởng chế độ thai sản được
tính như sau:
+Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền
lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Trường hợp NLĐ đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo
quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật
BHXH 2014 là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH;
+ Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định tại
Điều 32 và khoản 2 Điều 34 của Luật BHXH 2014 được tính bằng mức hưởng chế độ
thai sản theo tháng chia cho 24 ngày;
+ Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con
nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Luật
BHXH 2014, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 33 và Điều
37 của Luật BHXH 2014 thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo
tháng chia cho 30 ngày.
– Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14
ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng BHXH, NLĐ và người
sử dụng lao động không phải đóng BHXH.
– Mức hưởng chế độ thai sản được hướng dẫn cụ thể tại
Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH.
12.
Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản
–  Lao động nữ
ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản
3 Điều 34 của Luật BHXH 2014 trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức
khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10
ngày.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm
cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng
sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời
gian nghỉ đó được tính cho năm trước.
–  Số ngày nghỉ
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật BHXH 2014 do người
sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị
sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động
quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:
+ Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ
hai con trở lên;
+ Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải
phẫu thuật;
+ Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.

Liên
hệ hỗ trợ thông tin:
Nguyễn Luyến
ĐT: 0988.86.1619
Ms Mai
ĐT: 0962.268.862

Các câu hỏi liên quan đến chế độ hưu trí, nghỉ hưu, lương hưu


Câu hỏi:
Cơ quan mình có một lao động là Nữ đến
tháng 4/2017 đủ 52 tuổi và có thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại là đủ 16
năm. Cho mình hỏi bây giờ người lao động đó có đơn xin nghỉ chế độ hưu trí thì
có phải làm thủ tục đi giám định không. mình đọc trong thông tư
59/2015/TTBLĐTBXH thì không thấy phải đi giám định thì có đúng không?
Nội dung câu trả lời:
Chào bà,
            Căn
cứ theo quy định tại ĐIều 54 Luật BXHH số 58/2014/Qh13 về điều kiện hưởng lương
hưu: người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên thì được hưởng
lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
            + Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
            +
Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15
năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế
ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;
            +
Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên
mà trong đó có đủ 15 năm làm việc khai thác than trong hầm lò;
            +
Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
            Như
vậy, trường hợp lao động nữ đủ 52 tuổi và có 20 năm đóng BHXH trong đó có 16
năm làm nghề nặng nhọc, độc hại đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại
Điều 54 Luật BHXH và không phải đi giám định y khoa.
Trân trọng!
Người trả lời: – Phòng Chế độ BHXH.
Câu hỏi:
Tôi có mẹ già sinh năm 1931. Hiện nay cụ
đã già yếu, chân đau không đi lại được dễ dàng để đi nhận lương hưu. Vậy có thể
làm thủ tục chuyển hình thức nhận lương của cụ vào tài khoản của tôi (con gái
duy nhất) của cụ được không? Nếu được thì thủ tục bao gồm những gì? Xin làm ơn
cho biết. Trân trọng cảm ơn.
Nội dung câu trả lời:
1. Nhận lương hưu qua tài khoản cá nhân:
            Theo
quy định tại điểm 2.2 khoản 2 mục VI chương II Quy trinh chi trả các chế độ
BHXH hàng tháng của Quyết định 1298/QĐ-BHXH ngày 29/7/2016 của BHXH thành phố
Hà Nội về việc ban hành quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH BHTN: “… Người
hưởng chế độ BHXH đang hưởng lương hưu trợ cấp BHXH hàng tháng có nhu cầu chuyển
từ lĩnh bằng tiền mặt sáng lĩnh tiền bằng tài khoản cá nhân, tên Ngân hàng mở
tài khoản cá nhân với cơ quan BHXH. Nếu người hưởng đã có tài khoản cá nhân của
Ngân hàng thì ghi rõ số tài khoản cá nhân, ngân hàng nơi mở tài khoản cá nhân,
ngân hàng nơi mở tài khoản vào mẫu số 18-CBH hoặc Phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả
kết quả (mẫu số 01 theo Quyết định số 999/QĐ-BHXH ngày 24//2015 của BHXH Việt
Nam ban hành Quy định tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả thu tục hành
chính về BHXH, BHYT, BHTN)”
2. Nhận lương hưu bằng tiền mặt:
            Theo
quy định tại điểm 2.2 khoản 2 mục IV chương II Quy trình chi trả các chế độ
BHXH hàng tháng của Quyết định 1298/QĐ-BHXH ngày 29/7/2016 của BHXH thành phố
Hà Nội về việc ban hành quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH BHTN: “Đối với
trường hợp  người hưởng lương hưu, trợ cấp
BHXH hàng tháng là người già yếu, cô đơn, ốm đau, bệnh tật đang có mặt tại nơi
cư trú, không có khả năng đi đến nhận lương hưu và trợ cấp BHXH tại điểm chi trả
và cũng khoogn có khả năng đi làm thủ  tục
ủy quyền cho người khác lĩnh thay thì cán bộ Bưu điện huyện phải chi trả tận
nơi cư trú cho người hưởng”.
            Đề
nghị bà và gia đình tự lựa chọn hình thức lĩnh lương hưu phù hợp, liên hệ với đại
lý chi trả, BHXh quận huyện nơi đang lĩnh lương hưu để thực hiện./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Kế hoạch Tài chính.
Câu hỏi:
Mẹ tôi sinh ngày 12/12/1971. Mẹ tôi đã
đóng BHXH được 23 năm 9 tháng. Trong thời gian công tác, mẹ tôi có 16 năm được
xác nhận là làm việc trong điều kiện độc hại. Hiện tại có giấy chứng nhận của bệnh
viện suy giảm khả năng lao động 61%. Vậy đến 01/01/2017, mẹ tôi có đủ điều kiện
đề về hưu sớm không? Nếu về hưu thì lương hưu của mẹ tôi được tính như thế nào?
Nội dung câu trả lời:
Chào bạn,
            Theo
quy định của Luật BHXH, điều kiện để về hưu trước tuổi là có đủ 20 năm đóng
BHXH. Nếu về hưu năm 2016 và đủ 46 tuổi đối với lao động nữ, suy giảm 61% trở
lên.
            Trường
hợp mẹ của bạn phải 01/01/2017 mới đủ 47 tuổi trở lên. Như vậy, trường hợp của
mẹ bạn phải chờ đủ 50 tuổi mới về hưu trước tuổi được.
            Về
số năm làm việc nặng nhọc độc hại được giảm 5 năm tuổi đời để tính giảm trừ tỷ
lệ hưởng lương hưu.
            Trường
hợp có từ 15 năm làm việc trong điều kiện đặc biệt nặng nhọc độc hại mới không
tính tuổi đời khi nghỉ hưu./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Tuyên truyền.
Câu hỏi:
Mẹ tôi về hưu từ 06/2006 có được hưởng tiền
tăng lương hưu 8% không? Nếu có thì bao giờ được hưởng và truy lĩnh?
Nội dung câu trả lời:
            Căn
cứ nghị định số 55/2016/NĐ-CP ngày 15/6/2016 về việc điều chỉnh mức lương hưu,
trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hàng tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp
hàng tháng trong giai đoạn từ ngày 01/0/2015 đến ngày 01/5/2016 Vì vậy mệ ông
(bà) đã về hưu từ tháng 6/2006 nên bà không thuộc đối tượng điều chỉnh tăng 8%
theo Nghị định 55/2016.
            Trường
hợp của mẹ ông (bà) đã được điều chỉnh 8% theo Nghị định 09/2015/NĐ-CP ngày
22/01/2015 về việc điều chỉnh lương lưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối
với cán bộ xã đã nghỉ việc./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Chế độ BHXH.
Câu hỏi:
Theo quy định thì công chức nghỉ hưu từ
01/5/2016 sẽ được điều chỉnh lương hưu theo tiền lương mới và được hưởng từ
tháng 8/2016. Vây, tiền lương hưu mới của tôi được tính như thế nào và khi nào
thì được nhận khoản tiền lương đã điều chỉnh theo tiền lương mới từ tháng
8/2016 theo quy định?
Nội dung câu trả lời:
Chào bà,
Căn cứ theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 15/6/216
về việc điều chỉnh  mức lương hưu trợ cấp
mất sức lao động, trợ cấp hàng tháng. Đối tượng là người lao động có thời gian
đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định nghỉ
hưu từ 01/5/2016 trở đi, lương hưu được tính trên cơ sở mức lương cơ sở mới
1.210.000 đồng/ tháng theo cách tính quy định tại Luật BHXH.
Nhưng do bà không nêu rõ về hưu từ tháng nào nên
BHXH thành phố Hà Nội chưa có căn cứ để trả lời cụ thể về mức điều chỉnh lương
hưu cho bà./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Chế độ BHXH.
Câu hỏi:
Kính gửi các anh chị phòng cấp sổ thẻ,
Kính gửi BHXH quận Ba Đình, Tên mẹ tôi trong sổ hưu có chữ “thị”. Tôi
muốn làm thủ tục đổi tên cho mẹ tôi trên thẻ hưu gốc sang giống tên trên Chứng
minh nhân dân (bỏ chữ “thị”) để thuận tiện cho nhận lương hưu qua
ngân hàng. Xin hướng dẫn thủ tục cho tôi. Xin cảm ơn và chúc các anh chị mạnh
khỏe.
Nội dung câu trả lời:
Chào bạn,
            Hồ
sơ điều chỉnh thông tin về nhân thân đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp
BHXH hàng tháng bao gồm:
            –
Đơn theo mẫu 14-SHB (Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22/04/2016 của BHXH Việt
Nam);
            –
Giấy khai sinh hoặc trích lục giấy khai sinh hoặc trích lục thay đổi, cải
chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc;
            –
Thẻ BHYT.
Trân trọng!

Người trả lời: Phòng Cấp sổ, thẻ.

Liên hệ hỗ trợ:
Nguyễn Luyến
ĐT: 0988.86.1619
Ms Mai
ĐT: 0962.268.862

CÁC CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN TRỢ CẤP, CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT

Câu
hỏi:
Mẹ tôi tham gia đóng bảo hiểm xã hội
trong thời gian còn công tác tại Công ty môi trường đô thị Hải
Phòng,đến tháng 1 năm 2010 mẹ tôi nhận được quyết định về hưu khi đó
me tôi đã có 26 năm 6 tháng đóng BHXH bắt buộc,sau đó mẹ tôi con mua
thêm bảo hiểm y tế đến ngay 25 tháng 9 năm 2016 mẹ tôi qua đời.Vậy cho
hỏi diều kiện để gia đình tôi được hưởng chế độ tử tuất ra sao và
mức hưởng chế độ của gia đình tôi được tính như thế nào.Mong được tư
vấn.
Nội
dung câu trả lời:
            Tháng
01/2010 mẹ ông được nhận quyết định về hưu và đến ngày 25/09/2016 mẹ ông qua đời,
như vậy mẹ ông là người hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng. Theo quy định tại Mục
5 Luật BHXH số 58/2014/QH13 về chế độ tử tuất, gia đình ông được hưởng chế độ
như sau:
            –
Trợ cấp mai táng phí được thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật BHXH số
58/2014/QH13: bằng 10 lần mức lương cơ sở tại thời điểm chết.
            – Nếu
gia đình có thân nhân đủ điều kiện quy định theo Điều 67 Luật BHXH số
58/2014/QH13 thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, mức hưởng bằng
50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng
thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở; số thân nhân được hưởng
trợ cấp tuất hằng tháng không quá 04 người.
            – Nếu
gia đình không có thân nhân đủ điều kiện hưởng tuất hằng tháng thì gia đình hưởng
chế độ tuất một lần. Mức hưởng quy định theo Điều 70 Luật BHXH số 58/2014/QH13:
người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu
chết trong 02 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang
hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 01 tháng lương hưu thì mức
trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng 03 tháng lương đang hưởng./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Chế độ BHXH
Câu
hỏi:
Mẹ tôi có 18 năm 2 tháng tham gia BHXH bắt
buộc và 1 năm 10 tháng tham gia BHXH tự nguyện. Nay bà đã mất, vậy chế độ tử tuất
của bà được tính như thế nào? (Văn Giang, Nam – 36 tuổi)
Nội
dung câu trả lời:
Luật BHXH quy định, người có từ đủ 15 năm đóng BHXH
bắt buộc trở lên thì trợ cấp tuất hàng tháng được tính theo chính sách BHXH bắt
buộc; Có từ đủ 12 tháng đóng BHXH bắt buộc trở lên thì trợ cấp mai táng được thực
hiện theo chính sách BHXH bắt buộc.
Xét theo 2 điều kiện trên, gia đình bạn có thể nhận
được trợ cấp mai táng và trợ cấp tuất 1 lần hoặc hàng tháng.
Câu
hỏi:
Tôi và chồng bị tai nạn giao thông trên đường
đi làm về, chồng tôi không may qua đời. Chồng tôi đã đóng bhxh được hai năm tôi
muốn hỏi chế độ mà chồng tôi được hưởng.
Nội
dung câu trả lời:
            Chồng
bà đã đóng BHXH được hai năm và chết do tai nạn giao thông, như vậy chồng bà
thuộc đối tượng đang đóng BHXH. Vì chồng bà bị tai nạn giao thông trên đường đi
làm về, nên có 2 trường hợp như sau:
Trường hợp tai nạn giao thông được coi là tai nạn
lao động:
            Theo
quy định tại Mục 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 về chế độ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, gia đình bà được hưởng chế độ như sau:
            –
Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động được thực hiện theo quy định tại
Điều 51 Luật BHXH số 58/2014/QH13: được tính bằng 36 lần mức lương cơ sở tại thời
điểm chết.
            –
Trợ cấp mai táng phí được thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật BHXH số
58/2014/QH13: bằng 10 lần mức lương cơ sở tại thời điểm chết.
            – Nếu
gia đình có thân nhân đủ điều kiện quy định theo Điều 67 Luật BHXH số
58/2014/QH13 thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, mức hưởng bằng
50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng
thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở; số thân nhân được hưởng
trợ cấp tuất hằng tháng không quá 04 người.
            – Nếu
gia đình không có thân nhân đủ điều kiện hưởng tuất hằng tháng thì gia đình hưởng
chế độ tuất một lần. Mức hưởng quy định theo Khoản 1 Điều 70 Luật BHXH số
58/2014/QH13: được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5
tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước năm 2014; bằng
02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho các năm đóng bảo
hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức thấp nhất bằng 03 tháng mức bình quân tiền
lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội.
Trường hợp tai nạn giao thông không được coi là tai
nạn lao động:
            Theo
quy định tại Mục 5 Luật BHXH số 58/2014/QH13 về chế độ tử tuất, gia đình bà được
hưởng chế độ như sau:
            –
Trợ cấp mai táng phí được thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật BHXH số
58/2014/QH13: bằng 10 lần mức lương cơ sở tại thời điểm chết.
            –
Gia đình được hưởng chế độ tuất một lần, mức hưởng quy định theo Khoản 1 Điều
70 Luật BHXH số 58/2014/QH13: được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm
tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước
năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho
các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức thấp nhất bằng 03 tháng mức
bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Chế độ BHXH
Câu
hỏi:
Anh của ông Đỗ Văn Tự (tỉnh Thanh Hóa) là
bệnh binh, tỷ lệ mất sức lao động khi xuất ngũ là 51% và định kỳ 2 năm/lần được
Hội đồng giám định y khoa nơi cư trú khám lại. Lần giám định gần nhất trước khi
anh của ông Tự chết thì tỷ lệ mất sức lao động là 61%.
Nay, chị của ông Tự đủ 55 tuổi, khi chị của
ông làm hồ sơ đề nghị được hưởng chế độ theo quy định thì được Phòng Lao động –
Thương binh và Xã hội thị xã Bỉm Sơn trả lời, trường hợp anh của ông chỉ được
tính tỷ lệ mất sức lao động là 51% theo tỷ lệ mất sức khi xuất ngũ. Ông Tự hỏi,
như vậy có đúng không?
Nội
dung câu trả lời:
Theo quy định, các biên bản giám định là căn cứ để
xem xét, tiếp tục giải quyết chế độ bệnh binh, không phải là căn cứ để xem xét
điều chỉnh nâng mức trợ cấp và giải quyết chế độ trợ cấp tuất đối với thân nhân
bệnh binh.
Vì vậy trường hợp của chị ông Tự không thuộc diện áp
dụng chế độ tiền tuất đối với thân nhân bệnh binh.
Câu
hỏi:
Tôi hưởng lương hưu theo BHXH, vợ tôi chỉ
làm nội trợ ở nhà không có hưởng lương hưu theo BHXH, khi tôi mất thì vợ tôi có
được hưởng chế độ trợ cấp gì không? (Vũ Văn Đức, Nam – 81 tuổi)
Nội
dung câu trả lời:
Trường hợp người đang hưởng lương hưu chết, nếu thân
nhân gồm có con dưới 15 tuổi, hoặc con từ 15 đến dưới 18 tuổi còn đi học; vợ hoặc
chồng, cha mẹ ruột hoặc cha mẹ vợ/chồng hết tuổi lao động (đủ 60 đối với nam và
đủ 55 tuổi đối với nữ), có thu nhập dưới mức lương cơ sở (1.150.000 đồng) thì sẽ
được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Tối đa được hưởng 4 định suất (4 người).
Trường hợp không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng như trên thì sẽ được
hưởng trợ cấp tuất 1 lần.
Câu
hỏi:
Bố tôi hơn 60 tuổi tham gia bảo hiểm xã hội
tự nguyện và đang hưởng lương hưu . Tuy nhiên ông mới nhận lương hưu được 4
tháng thì bố tôi tai nạn qua đời. Vậy gia đình tôi có thể nhận trợ cấp mai táng
và trợ cấp tuất không? Tôi có thể nhận mai táng phí là bao nhiêu? (Mai Lan, Nữ
– 35 tuổi)
Nội
dung câu trả lời:
Theo quy định của Luật BHXH, người đang hưởng lương
hưu bị tử vong thì thân nhân sẽ nhận được trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức
lương cơ sở tại tháng mà người này chết. Nếu mức lương cơ sở khi bố bạn qua đời
là 1.150.000 đồng/tháng thì gia đình có thể nhận được khoản mai táng phí là
11.500.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, gia đình còn đủ điều kiện được hưởng trợ
cấp tuất 1 lần. Luật BHXH quy định : Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân
của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương
hưu. Nếu chết trong 02 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương
hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 01 tháng lương
hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu. Bố bạn mất khi đã nhận 4 tháng
lương hưu, như vậy, gia đình sẽ nhận trợ cấp tuất 1 lần bằng 47 tháng lương hưu
mà ông đã nhận trước đó.
Câu
hỏi:
Thủ tục thanh toán tiền mai táng phí cho
cán bộ nghỉ hưu được tính như thế nào? Thời hạn được nhận tiền bao lâu sau khi
mất? Xin cảm ơn! (NguyễnThị Hoa, Nữ – 45 tuổi)
Nội
dung câu trả lời:
Luật BHXH quy định hồ sơ hưởng chế độ tử tuất bao
gồm: “a) Sổ bảo hiểm xã hội đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội;b) Giấy chứng
tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết; ) Tờ khai của
thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định”. Tổ chức bảo hiểm
xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả
lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Câu
hỏi:
Chị tôi sinh con thứ hai được hơn một
tháng thì đột ngột qua đời. Chị tôi đã tham gia bảo hiểm được 8 năm. Ngoài tiền
thai sản và trợ cấp tiền tuất, các con chị tôi cùng người nuôi dưỡng các cháu
có được hưởng trợ cấp không? Hiện tại chồng và bố mẹ chồng chị đang nuôi hai
cháu. Bố mẹ chồng chị tôi đã hơn 65 tuổi, không có nghề nghiệp. (Vũ Thị Minh, Nữ
– 28 tuổi)
Nội
dung câu trả lời:

Theo quy định của luật BHXH, để thân nhân nhận tiền
tuất hàng tháng, người không may tử vong phải tham gia BHXH đủ 15 năm nhưng
chưa hưởng BHXH một lần. Như vậy, trường hợp của chị bạn, thân nhân không được
hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng mà chỉ được trợ cấp tiền tuất một lần, tiền
thai sản và tiền trợ cấp mai táng phí.

Liên hệ hỗ trợ:
Nguyễn Luyến
ĐT: 0988.86.1619
Ms Mai
ĐT: 0962.268.862

CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT


1.
Đối tượng hưởng trợ cấp mai táng:
–
Người đang tham gia hoặc đang bảo lưu mà đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên;
–
Người đang hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng đã nghỉ việc.
–
Người chết do TNLĐ, BNN hoặc chết trong thời gian điều trị TNLĐ, BNN
*  Những trường hợp nêu trên bị Toà án tuyên bố
là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp mai táng.
2.
Mức hưởng:
Người
lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở (hiện nay là
12.100.000 đồng)
Ngoài
ra thân nhân được xét hưởng tuất hàng tháng hoặc tuất 1 lần.
3.
Chế độ tuất hàng
tháng:                            
3.1
Điều kiện:
a. Đã
đóng BHXH đủ 15 năm trở lên nhưng chưa hưởng trợ cấp BHXH 1 lần;
b.
Đang hưởng lương hưu; MSLĐ hàng tháng
c.
Chết do TNLĐ, BNN (kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu);
d.
Đang hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ
61% trở lên.
3.2
Đối tượng xét hưởng:
+ Con
chưa đủ 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động
(KNLĐ) từ 81% trở lên; con sinh ra sau khi người bố chết mà người vợ đang mang
thai
+ Vợ
(hoặc chồng), cha mẹ hai bên, thành viên khác trong gia đình mà người tham gia
BHXH có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của Luật HNGĐ nếu từ đủ 60 tuổi đối
với nam, từ đủ 55 tuổi đối với nữ.
+ Vợ (hoặc chồng), cha mẹ hai bên, thành viên khác trong gia
đình mà người tham gia BHXH có nghĩa vụ nuôi dưỡng dưới 60 tuổi đối với nam,
dưới 55 tuổi đối với nữ và suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên.
Thân
nhân phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn lương cơ
sở, không bao gồm khoản trợ cấp theo pháp luật ưu đãi người có công.
3.3.
Thời điểm hưởng:
Từ
tháng liền kề sau tháng mà người lao động, người hưởng lương hưu, trợ cấp MSLĐ,
TNLĐ, BNN chết.
3.4.
Số lượng thân nhân xét hưởng:
01
người chết => không quá 04 thân nhân.
từ 02
người chết => hưởng 2 lần mức trợ cấp nêu trên.
4.
Chế độ tuất 1 lần:
4.2
Đối tượng hưởng:
Thân
nhân của người chết hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia BHXH
có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo 
quy định của pháp luật về
hôn nhân và gia đình. Trường hợp không có thân nhân theo quy định thì chia theo
pháp luật thừa kế.
Thân nhân thuộc đối tượng hưởng trợ cấp
hàng tháng trừ con dưới 6 tuổi hoặc thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ
81% trở lên nếu không muốn hưởng tuất hàng tháng thì chọn hưởng tuất 1 lần. Đối
với trường hợp chọn hưởng tuất 1 lần thì tất cả các thân nhân hưởng tuất hàng
tháng phải có biên bản họp thống nhất chọn hưởng tuất 1 lần.
4.3
Thời điểm hưởng: 
 Từ lúc cơ quan BHXH ra quyết định.
4.4.
Mức hưởng:
Được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm
xã hội 
như
sau:
a)
1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm
đóng trước năm 2014;
b) 02
tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ
năm 2014 trở đi.
Người
đang đóng hoặc đang bảo lưu chết mà thời gian đóng BHXH có tháng lẻ từ 1 đến 6
tháng: ½ năm; từ 7 đến 11 tháng: 1 năm.
Ví dụ: Ông T bị ốm chết, có thời gian
đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 10/2005 đến 3/2017. Ông T có mức bình quân tiền
lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là 5.000.000 đồng/tháng. Ông T có 8 năm
03 tháng đóng BHXH ở giai đoạn trước ngày 01/01/2014; có 3 năm 03 tháng đóng
BHXH ở giai đoạn từ ngày 01/01/2014 trở đi.
Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân
nhân của ông T được tính như sau (08 năm đóng trước năm 2014 và 3 năm 6 tháng
đóng từ năm 2014 trở đi):
[(8 x 1,5) + (3,5 x 2)] x 5.000.000 đồng
= 95.000.000 đồng.
Đối
với người đang hưởng lương hưu: nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì
tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng tiếp theo, cứ
hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu đang
hưởng nhưng mức thấp nhất bằng 3 tháng lương hưu đang hưởng trước khi chết.
Mức hưởng trợ cấp tuất 1 lần đối với người đang hưởng lương
hưu
=
48 x Lh –
(t – 2) x 0.5 x Lh
Các câu hỏi liên quan đến chế độ tử tuất
Câu hỏi:
Tôi và chồng cô bị tai nạn giao thông trên đường
đi làm về, chồng tôi không may qua đời. Chồng tôi đã đóng bhxh được hai năm tôi
muốn hỏi chế độ mà chồng tôi được hưởng.
Nội
dung câu trả lời:
            Chồng bà đã đóng BHXH được hai năm và chết do tai nạn
giao thông, như vậy chồng bà thuộc đối tượng đang đóng BHXH. Vì chồng bà bị tai
nạn giao thông trên đường đi làm về, nên có 2 trường hợp như sau:
Trường hợp tai nạn giao
thông được coi là tai nạn lao động:
            Theo quy định tại Mục 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 về chế
độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gia đình bà được hưởng chế độ như sau:
            – Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động được thực
hiện theo quy định tại Điều 51 Luật BHXH số 58/2014/QH13: được tính bằng 36 lần
mức lương cơ sở tại thời điểm chết.
            – Trợ cấp mai táng phí được thực hiện theo quy định tại
Điều 66 của Luật BHXH số 58/2014/QH13: bằng 10 lần mức lương cơ sở tại thời
điểm chết.
            – Nếu gia đình có thân nhân đủ điều kiện quy định theo
Điều 67 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng
tháng, mức hưởng bằng 50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người
trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở;
số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá 04 người.
            – Nếu gia đình không có thân nhân đủ điều kiện hưởng
tuất hằng tháng thì gia đình hưởng chế độ tuất một lần. Mức hưởng quy định theo
Khoản 1 Điều 70 Luật BHXH số 58/2014/QH13: được tính theo số năm đã đóng BHXH,
cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội trước năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm
xã hội cho các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức thấp nhất bằng
03 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội.
Trường hợp tai nạn giao
thông không được coi là tai nạn lao động:
            Theo quy định tại Mục 5 Luật BHXH số 58/2014/QH13 về chế
độ tử tuất, gia đình bà được hưởng chế độ như sau:
            – Trợ cấp mai táng phí được thực hiện theo quy định tại
Điều 66 của Luật BHXH số 58/2014/QH13: bằng 10 lần mức lương cơ sở tại thời
điểm chết.
            – Gia đình được hưởng chế độ tuất một lần, mức hưởng quy
định theo Khoản 1 Điều 70 Luật BHXH số 58/2014/QH13: được tính theo số năm đã
đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng
bảo hiểm xã hội trước năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng
đóng bảo hiểm xã hội cho các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức
thấp nhất bằng 03 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Chế độ BHXH
Câu hỏi:
Mẹ tôi tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong
thời gian còn công tác tại Công ty môi trường đô thị Hải Phòng,đến
tháng 1 năm 2010 mẹ tôi nhận được quyết định về hưu khi đó me tôi đã
có 26 năm 6 tháng đóng BHXH bắt buộc,sau đó mẹ tôi con mua thêm bảo
hiểm y tế đến ngay 25 tháng 9 năm 2016 mẹ tôi qua đời.Vậy cho hỏi diều
kiện để gia đình tôi được hưởng chế độ tử tuất ra sao và mức hưởng
chế độ của gia đình tôi được tính như thế nào.Mong được tư vấn
Nội dung câu trả lời:
            Tháng 01/2010 mẹ ông được nhận quyết định về hưu và đến
ngày 25/09/2016 mẹ ông qua đời, như vậy mẹ ông là người hưởng trợ cấp hưu trí
hàng tháng. Theo quy định tại Mục 5 Luật BHXH số 58/2014/QH13 về chế độ tử
tuất, gia đình ông được hưởng chế độ như sau:
            – Trợ cấp mai táng phí được thực hiện theo quy định tại
Điều 66 của Luật BHXH số 58/2014/QH13: bằng 10 lần mức lương cơ sở tại thời
điểm chết.
            – Nếu gia đình có thân nhân đủ điều kiện quy định theo
Điều 67 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng
tháng, mức hưởng bằng 50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người
trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở;
số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá 04 người.
            – Nếu gia đình không có thân nhân đủ điều kiện hưởng tuất
hằng tháng thì gia đình hưởng chế độ tuất một lần. Mức hưởng quy định theo Điều
70 Luật BHXH số 58/2014/QH13: người đang hưởng lương hưu chết được tính theo
thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong 02 tháng đầu hưởng lương hưu thì
tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ
hưởng thêm 01 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức
thấp nhất bằng 03 tháng lương đang hưởng./.
Trân trọng!
Người trả lời: Phòng Chế độ BHXH